Satellite Mind Control Weapon (Vũ khí đọc não và điều khiển não, điều khiển hành vi từ vệ tinh)

Vũ khí điện từ kiểm soát não: Biến đổi hành vi và nhân cách con người

Cấy chip điện tử vào não bộ một người để kiểm soát tư tưởng, suy nghĩ, cảm xúc, sinh hoạt của người đó, tưởng chừng chỉ là chuyện của phim khoa học giả tưởng, thế nhưng nay, điều đó đã có trong thực tế và đang diễn ra tại Mỹ. Các cơ quan an ninh và tình báo Mỹ đã bí mật cấy vào não những nạn nhân được gọi là Cá nhân mục tiêu (TI) những con chip điện tử cực nhỏ kết nối với máy vi tính để thử nghiệm tính hiệu quả của việc sử dụng các chip điện tử này phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, từ việc kiểm soát bệnh nhân điều trị cho đến việc chống tội phạm, khủng bố, cả việc kiểm soát các đối tượng được xem là "có vấn đề".

dieukhiennao

Con người bị điều khiển từ xa từ hơn nửa thế kỷ qua?

Theo trang tin tình báo Befroe It's News, gần đây, một phụ nữ ở California tên là Kathleen Watterson, một TI, đã kiện các cơ quan tình báo Mỹ ra tòa án vì đã sử dụng vũ khí bí mật gắn trên tháp điện thoại di động (ĐTDĐ) phát ra sóng năng lượng vô tuyến nhắm vào bà.

Tại tòa án, bà Watterson đã thuê Levi McCann, một chuyên gia về lĩnh vực vũ khí kiểm soát não bí mật này để chứng minh sự thật việc bà bị những kẻ làm việc bí mật cho Chính phủ Mỹ đã hướng thiết bị phát sóng năng lượng điện từ nhắm vào nhà ở của bà Watterson để tác động lên suy nghĩ, hành vi, cảm xúc, làm đảo lộn cuộc sống và tác động xấu đến sức khỏe của bà. Hiện chuyên gia McCann đang giúp bà Watterson triển khai quá trình chữa trị những thương tổn do vũ khí sóng điện từ gây ra.

Đồng thời, bà Watterson còn phải xuất hiện trước tòa thêm một lần nữa vào tháng 9 tới để hoàn tất vụ kiện. Việc bà Watterson thắng kiện Chính phủ Mỹ tại tòa án được đón nhận như một tín hiệu đáng mừng, tạo ra hy vọng cho hàng ngàn nạn nhân TI đang sống tại Mỹ và hàng ngàn nạn nhân khác đang sống trong nỗi tuyệt vọng mang tên công nghệ cao tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Chính phủ Mỹ chưa từng thừa nhận việc triển khai mạng lưới vũ khí điện từ bên trong nước Mỹ và cả trên thế giới. Các thiết bị thu phát sóng điện từ của loại vũ khí này được lắp chung với các thiết bị thu phát sóng trên tháp ĐTDĐ. Các cột tháp điện thoại này được dựng lên ở hầu khắp các khu dân cư và dọc theo các tuyến xa lộ.

Ở Washington, một nhà báo đã từng đặt câu hỏi với Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld lúc đương nhiệm về sự tồn tại của hệ thống vũ khí điện từ này và nhận được câu trả lời ỡm ờ của ông Rumsfeld, với ngụ ý một hệ thống vũ khí như thế đã được triển khai ở nước Mỹ từ lâu.

Mãi gần 10 năm sau, những bí mật đầu tiên về loại vũ khí điện từ hiện đại bắt đầu được tiết lộ trước thế giới thông qua một chương trình tin tức trên kênh truyền hình Russia Today của Nga, phát sóng vào cuối tháng 7 vừa qua. Chương trình mang tên Deste La Sombra (Từ trong bóng tối) do nhà báo Daniel Estulin sản xuất, dựa trên cuộc phỏng vấn Magnus Olsson, một nạn nhân TI. Ông Olsson đã dành nhiều năm qua để vận động công khai hóa "tội ác" này - từ ông dùng trong chương trình truyền hình của Russia Today.

Theo chương trình trên Russia Today, công nghệ vũ khí điện từ bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến nhau như khoa học thần kinh, điều khiển học, trí thông minh nhân tạo, chip điện tử thần kinh, sự biến đổi nhân cách con người, rồi những thứ mang tính viễn tưởng như người máy không gian, người máy địa cầu, giám sát tế bào, kiểm soát hành vi, giám sát tư tưởng…".

Mô hình kiểm soát não công nghệ cao.

 

Chương trình thí nghiệm kiểm soát não người đã từng được CIA triển khai từ thập niên 50 của thế kỷ trước, có tên gọi là MKUltra nhằm kiểm soát, điều khiển đối tượng mục tiêu là đối thủ của nước Mỹ. Nhưng thời kỳ đó kỹ thuật còn hạn chế và việc tẩy não bằng các hóa chất độc hại, kể cả các chất ma túy như heroin, cocaine, cần sa, MDMA, morphine… phổ biến nhất là loại thuốc tẩy não có tên là LSD, nhưng không mang lại hiệu quả như mong muốn, mà ngược lại đã gây nhiều tai tiếng.

Đặc biệt, trong dự án MKUltra có một tiểu dự án mang bí số 119, là dự án nghiên cứu điện từ đầu tiên, chủ yếu nghiên cứu các tín hiệu điện tử sinh học của các cơ quan cơ thể người và sự kích hoạt hành vi bằng phương tiện điều khiển từ xa. Tiểu dự án 119 bao gồm 5 lĩnh vực nghiên cứu chính là: kỹ thuật kích hoạt hành vi con người bằng phương tiện điện tử điều khiển từ xa, các thiết bị cảm ứng điện tử sinh học, ghi nhận, phân tích và chuẩn hóa dữ liệu.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do, dự án MKUltra đã bị xếp xó vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, và toàn bộ hồ sơ của dự án đã bị Giám đốc CIA Richard Helms cho tiêu hủy vào năm 1973.

Từ những con chip siêu nhỏ đến các “viên thuốc thông minh”

Bước sang thế kỷ XXI, tham vọng "kiểm soát hành vi, tư tưởng, suy nghĩ" của con người lại trỗi dậy trong các lãnh đạo của nước Mỹ. Từ thời Tổng thống George W. Bush, chương trình vũ khí kiểm soát não được nâng cấp, hiện đại hóa bằng công nghệ mới của thế kỷ XXI. CIA lại được giao chủ trì dự án, và cơ quan này đã tài trợ cho các chương trình nghiên cứu của các trường đại học và thuê các chuyên gia hàng đầu về thần kinh học để thực hiện.

Dựa trên nền tảng công nghệ nano, người ta xây dựng các chip điện tử cảm biến cực nhỏ - kích thước chỉ vài nanomét (1 mét bằng 1 tỉ nanomét), để dễ dàng cấy vào não người mà đối tượng không hề hay biết. Ban đầu, hoạt động này được xây dựng dựa vào kỹ thuật cấy chip điện tử nhằm mục đích kiểm soát các vật cưng, vật nuôi ở trang trại và người già neo đơn không người chăm sóc. Nhưng sau đó, tiềm năng lợi ích của nó đã thu hút các "bậc thầy" về do thám, theo dõi con người quan tâm và những thí nghiệm đầu tiên đã bắt đầu được triển khai.

Cột thu phát sóng điện thoại di động được sử dụng để lắp đặt thiết bị thu phát sóng điện từ kiểm soát não.

Chuyên gia Baird cho biết, đã một thời gian dài, hàng ngàn bậc cha mẹ ở Mỹ đã không hề hay biết con cái của họ đã bị cấy chip điện tử theo dõi khi họ đưa con cái đến các phòng khám răng, các con chip đã được cấy vào chân răng trẻ em Mỹ. Rồi những "viên thuốc thông minh" ra đời từ các nghiên cứu của các trường đại học được tán dương là thành tựu vượt bậc của công nghệ hỗ trợ y học. Nhưng đó cũng là một "công cụ" nữa bị các cơ quan tình báo của Chính phủ Mỹ bí mật lợi dụng nhằm mục đích an ninh quốc gia.

Một đối tượng TI có thể bị cấy chip bằng cách chụp thuốc mê hay chỉ đơn giản là tiêm thẳng vào máu khi trị bệnh thông thường. Sau đó, mọi hoạt động của đối tượng TI, suy nghĩ, cảm xúc, hành vi, kể cả khẩu vị ăn uống, thị hiếu, ước mơ, bản sắc cá thể của anh ta cũng đều bị giám sát, thậm chí bị điều khiển từ một máy tính đặt tại trung tâm điều khiển của CIA hoặc NSA, hoặc một cơ quan an ninh khác. Sự tự do của con người hoàn toàn biến mất.

Vũ khí điện từ khiến cho cuộc sống của các TI bị hủy hoại, sức khỏe của anh ta suy sụp, rồi nhân cách, bản sắc cá nhân của anh ta cũng bị tàn phá. Mọi giá trị đạo đức con người đều bị bỏ qua. Tất cả chỉ nhằm phục vụ cho ý muốn của "ông thầy" - kẻ chủ trì điều khiển các TI.

Những nạn nhân của loại vũ khí điện từ này sẽ sống như trong địa ngục trần gian vì tất cả mọi thứ thuộc về anh ta từ trước đến nay đều thay đổi hoàn toàn mà anh ta không hề hay biết.

Paul Baird, một chuyên gia về do thám, theo dõi công dân Mỹ, cho rằng, thường thì sự bối rối, lẫn lộn khiến cho các nạn nhân trở nên kỳ quặc, khác thường hoặc họ phản ứng bằng cách chạy ra đường la toáng lên kêu cứu trong khi nhìn họ chẳng có vẻ gì cần cứu giúp cả. Chính điều này khiến các nạn nhân bị xem là những kẻ không bình thường.

Lời kể của những “vật thí nghiệm”

Một nạn nhân tên là Sean Alexander Alizada, cư ngụ ở thành phố San Diego, bang California, đã kể lại với trang tin BIN câu chuyện mình từng bị Sở Cảnh sát Los Angeles đánh thuốc mê, cưỡng bức cấy chip điện từ vào não làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống. Cũng như nhiều nạn nhân TI khác, phải mất khoảng 1 tháng sau hoặc lâu hơn Alizada mới phát hiện mình bị lâm vào tình trạng bị biến thành một thứ khác lạ, không phải là chính mình. Alizada kể một hôm, anh ta trở về nhà, sang nhà hàng xóm chào hỏi xã giao như anh ta thường làm.

Tuy nhiên, lần này, mọi người nhìn Alizada bằng một con mắt khác hẳn, cứ như thể anh ta vừa làm việc gì đó rất khác thường mà anh ta hoàn toàn không ý thức được. Việc này cũng nằm trong chương trình thí nghiệm nhằm nghiên cứu tác động xã hội của đối tượng. Rồi Alizada phát hiện máy vi tính cá nhân, máy tính xách tay, cổng Internet, tài khoản trên mạng xã hội của anh… đều thay đổi, chia sẻ với những đối tượng theo một quy ước rất lạ…".

Frank Olson, nạn nhân nổi tiếng của dự án MKUltra.

Cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn, Alizada không biết gì hết. Alizada kể, sau đó anh ta nghe những giọng nói của những người hàng xóm, nhưng có vẻ như những giọng nói đó phát ra từ chính trong tai của Alizada, vì những người hàng xóm đang ở cách xa trên 30 mét, có nhiều lớp tường ngăn cách. Điều khó hiểu nhất với Alizada chính là, tất cả những suy nghĩ, tư duy vừa thoáng qua trong đầu chỉ vài giây sau anh ta đều được nghe lại bằng những giọng nói phát ra từ chính miệng những người hàng xóm đó. Alizada nhìn thấy những người hàng xóm của mình vừa "quệt quệt" ĐTDĐ của mình vừa thảo luận những điều vừa xuất hiện trong suy nghĩ của chính Alizada.

Deporah Dupré, phóng viên của trang tin BIN phụ trách loạt phóng sự về chương trình kiểm soát não, cho biết, không chỉ có Alizada, mà nhiều nạn nhân TI khác tiếp xúc với bà đều kể một câu chuyện giống nhau đại loại như thế. Từ thời Tổng thống George W. Bush cho đến Tổng thống Barack Obama, có đến hàng người đã trở thành các TI - nạn nhân của cuộc thí nghiệm vũ khí điện từ bí mật của Chính phủ Mỹ.

Theo chuyên gia Baird, FBI và các sở cảnh sát địa phương là những đơn vị phụ trách việc săn tìm "vật thí nghiệm", thường thì danh sách vật thí nghiệm do FBI đề xuất, được chọn lựa tùy hứng, nhưng thông thường nhất họ là những "người thổi còi" (tố giác tiêu cực) trong các cơ quan nhà nước, các nhà hoạt động, nhà văn, kẻ thù của bọn tội phạm, hay thành viên các nhóm người bị gạt bên lề xã hội. Bất cứ ai có quan hệ "đúng đắn" với FBI đều có thể đề cử một hoặc nhiều cái tên cho danh sách đối tượng TI.

Baird nói với trang tin BIN rằng, ông đã nhận được khoảng 12.000 lời kêu cứu từ các nạn nhân TI. Những nạn nhân này bị các loại tra tấn như giám sát tế bào thần kinh từ xa (remote neural monitoring, còn gọi là brain rape - hãm hiếp não bộ) và thần kinh thoại (neurophone, tức giọng nói truyền trực tiếp vào trong não). Những kiểu tra tấn này thường được thực hiện bởi các toán giám sát sử dụng các máy tính mạnh kết nối qua vệ tinh quỹ đạo đồng bộ. Các toán kỹ thuật cao đó làm việc bên trong tổng hành dinh CIA ở Langley, trong cơ sở Fort Meade của NSA và các cơ sở khác của cộng đồng tình báo Mỹ.

( CAND Online )

 

Satellite Mind Control Weapon (Vũ khí đọc não và điều khiển não, điều khiển hành vi từ vệ tinh)

- Phát hiện trường của tần số điện tử (EMF) bên trong con người cho việc theo dõi

Đối tượng điện từ có thể bị phát hiện từ xa, do đó các đối tượng (cụ thể là con người) có thể bị theo dõi bất cứ nơi đâu chúng đến. Với trang thiết bị đặt biệt EMF NSA (EMF: Electromagnetic Frequencies:tần số điện tử; NSA: Nation Security Agent: Cơ quan An Ninh) có thể đọc từ xa đối tượng. Những sóng của tần số này được mã hóa thành những trạng thái và suy nghĩ của con người. Não người có thể là một radio nhỏ có thể thu và phát sóng điện từ. Con người này hoàn toàn có thể theo dõi từ xa.
Quân đội có thể liên lạc bất cứ cá nhân nào trong cả nước dựa trên mạng dò quét những tín hiệu trí tuệ EMF (Electromagnetic Frequencies:tần số điện tử) và máy tính của Quân đội kết nối và theo dõi người đó 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần. Quân đội lấy ra và theo dõi bất cứ ai trong nước.

- Quân đội sử dụng tần số điện tử trong não đã kích thích

Quân đội sử dụng tần số điện tử của não đã kích thích cho việc theo dõi thần kinh từ xa (RNM: Remote Neural Monitoring) và liên kết não điện tử (EBL: Electronic Brain Link). Tần số điện tử của não đã kích thích (EMF Brain Stimulation) đã phát triển từ chương trình MKUltra trong những năm đầu 1950, chương trình này bao gồm nghiên cứu luận lý thần kinh (tín hiệu não) sang bức xạ sóng điện từ (Radiation) và nghiên cứu điện tử sinh học và phát triển. Kết quả kỹ thuật bí mật này được phân loại tại Lưu trữ Cơ quan An ninh như “Trí tuệ sóng điện từ” định nghĩa là thông tin từ sóng điện từ phát ra không chủ ý trong môi trường, không bao gồm tính phóng xạ và nổ hạt nhân. Tín hiệu trí tuệ đã hiện thực và giữ bí mật kỹ thuật này trong cùng cách như các chương trình chiến tranh điện tử của chính phủ. Cơ quan An ninh theo dõi những thông tin này và giấu nghiên cứu khoa học này trước công chúng. Quân đội đã sở hữu thiết bị điện tử mà phân tích hoạt động điện tử trong con người từ xa. Máy tính Quân đội (có khả năng tổng hợp bản đồ não) có thể theo dõi tất cả các hoạt động điện từ trong não. Quân đội ghi lại và giải mã bản đồ não của mỗi cá nhân bao gồm tất cả mọi người (nghĩa là ghi và giải mã tất cả bản đồ não của mọi người) cho mục đích an ninh. Tần số điện tử của não đã được kích thích là một cách bí mật sử dụng bởi quân đội cho việc liên kết não đến máy tính (Brain-to-Computer Link). Cho mục đích theo dõi điện tử, hoạt động điện tử trong các phát biểu của trung tâm não được dịch sang những đối tượng lời nói của suy nghĩ. Kỹ thuật theo dõi thần kinh từ xa (RNM) có thể gửi những tín hiệu được mã hóa đến vỏ não âm thanh của não vì vậy cho phép âm thanh liên lạc trực tiếp đến não mà không thông qua lỗ tai. Quân đội sử dụng kỹ thuật này để mô phỏng âm thanh hoang tưởng đến đối tượng là đặc tính của bệnh tâm thần phân liệt. Không có bất kỳ sự liên lạc nào với đối tượng vật lý, RNM (kỹ thuật theo dõi thần kinh từ xa) phát họa hoạt động điện tử từ vỏ não hình ảnh của đối tượng mục tiêu và hiển thị những hình ảnh từ não đối tượng mục tiêu lên màn hình video. Quân đội nhìn thấy những gì mà đối tượng bị theo dõi đang nhìn. Trí nhớ thị giác của con người cũng bị theo dõi. RNM (kỹ thuật theo dõi thần kinh từ xa) gửi những hình ảnh trực tiếp đến vỏ não hình ảnh (thị giác) của nạn nhân bị theo dõi mà không thông qua mắt và dây thần kinh thị giác. Quân đội sử dụng kỹ thuật này bí mật đặt những hình ảnh lên não của nạn nhân bị theo dõi trong khi họ đang ở R.E.M sleep (Rapid Eyes Movement Sleep: là một giai đoạn bình thường của giấc ngủ) cho mục đích lập trình não.

- Khả năng điều khiển của Quân đội khi sử RNM (kỹ thuật theo dõi thần kinh từ xa)


Mạng lướt tín hiệu trí tuệ (Signals Intelligence Network) xuất hiện từ năm 1940. Quân đội ở một nơi chứa hệ thống lớn theo dõi thần kinh từ xa (RNM) không dây hai chiều mà được sử dụng theo dõi các nạn nhân và theo dõi thông tin âm thanh, thị giác của não các nạn nhân. Kỹ thuật này được sử dụng mà không cần liên hệ vật lý với nạn nhân. Kỹ thuật theo dõi thần kinh từ xa (RNM) là phương cách nền tảng của việc theo dõi. Âm thanh nói và âm thanh 3D, và siêu âm thanh được gửi đến vỏ não âm thanh của não nạn nhân (không thông qua tai) và những hình ảnh được gửi vào vỏ não hình ảnh (vỏ não thị giác). Kỹ thuật theo dõi thần kinh (RNM) có thể thay đổi nhận thức, tâm tính, hành động của nạn nhân. Liên kết vỏ não nói/ vỏ não âm thanh đã trở thành hệ thống giao tiếp nền tản cho giao tiếp trí tuệ. Kỹ thuật theo dõi thần kinh từ xa (RNM) cho phép liên kết hoàn toàn âm thanh-hình ảnh từ não đến não (brain-to-brain link) hoặc liên kết não đến máy tính (brain-to-computer link).

- Kỹ thuật liên kết não điện từ (EMF Brain Link)

Quân đội có thể dò tìm, xác định và theo dõi những điện tử sinh học của con người.
Quân đội sở hữu khả năng để theo dõi từ xa thông tin trong não người bởi giải mã kỹ thuật số những điện thế trong sóng điện tử tần số 30-50 Hz, 0.5 milliwatt phát ra từ não. Hoạt động thần kinh trong não tạo ra mô hình chuyển điện mà có sự thay đổi chuyển dịch từ trường. Sự thay đổi từ trường này phát ra một sóng điện tử (EMF: electromagnetic frenqencies) tần không đổi từ 30-50 Hz, 0.5 milliwatt. Điện từ phát ra từ não nạn nhân gọi là evoked potentials (điện thế phát ra). Mỗi suy nghĩ, phản ứng, yêu câu hành vi, sự kiện âm thanh, và hình ảnh thị giác trong não có một điện thế phát ra tương ứng hay bộ các điện thế phát ra. EMF (sóng điện từ) phát ra từ não được giải mã thành những suy nghĩ, hình ảnh, âm thanh hiện tại của não nạn nhân. Quân đội sử dụng EMF-transmitted Brain Stimulation (hệ thống kích sóng điện từ phát ra từ não) như là một hệ thống liên lạc thông tin để chuyển tải thông tin (cũng như là thông điệp từ hệ thống thần kinh) đến cơ quan an ninh và ngược lại là chuyển tải thông tin đến não nạn nhân. EMF-transmitted Brain Stimulation (hệ thống kích sóng điện từ phát ra từ não) hoạt động bằng cách gửi tín hiệu điện tử được mã hóa phức tạp và xung hóa đến bộ phận thu điện thế trong não, vì vậy hình thành âm thanh và hình ảnh thị giác trong những mạch điện thần kinh của não. Hệ thống kích sóng điện từ phát ra từ não thay đổi trí não và tác động hành vi nạn nhân. Liên kết não điện tử hai chiều (Two-way Electronic Brain Link) được thực hiện bằng cách theo dõi từ xa thông tin thần kinh nghe nhìn trong khi vẫn truyền âm thanh đến võ não âm thanh (không thông qua tai) và truyền những hình ảnh đến vỏ não hình ảnh (không qua thần kinh thị giác và mắt, những hình ảnh xuất hiện như cảnh 2 chiều (2-D) di động trong não. Liên kết não điện tử hai chiều (Two-way Electronic Brain Link) đã trở thành hệ thống liên lạc thông tin nền tảng cho Quân đội. RNM (hệ thống theo dõi từ xa thông tin sinh học điện tử trong não người) đã trở thành hệ thống theo dõi nền tảng. Nó được một số cơ quan sử dụng trong cộng đồng. RNM đòi hỏi giải mã tần số cộng hưởng của từng vùng trong não. Tần số này sau đó được điều chỉnh (modulated) để giả thông tin trong vùng não đó. Tần số của mỗi vùng não khác nhau đáp ứng tần số khác nhau từ 3Hz đến 50 Hz. Chỉ có Quân đội điều chỉnh những tín hiệu trong dãi băng tần số này.

Ví dụ của hệ thống kích tần số điện tử của não (EMF Brain Stimulation):

theodoinguoiquanao

Thông tin được điều chỉnh này được đưa vào não tại cường độ khác nhau từ tiềm thức đến nhận thức. Mỗi não người có tập duy nhất các tần số cộng hưởng sinh học điện từ. Gửi thông tin âm thanh đến não người này tại tần số của vỏ não âm thanh người khác thì kết quả âm thanh đó không được nhận.

Vũ khí âm thanh đến não V2K (voice to skull) trong Mind Control

V2K mô tả “âm thanh đến não” hay còn gọi hệ thống nghe từ xa. Nạn nhân có thể nghe âm thanh trực tiếp trong não mà không thông qua tai. Sóng siêu âm (ultrasound) và sóng ngắn (microwave) được sử dụng cho việc nghe từ xa. Các ưu điểm cho Quân đội và những kẻ theo dõi dấu mặt (gang stalkers) sử dụng vũ khí V2K cho việc tra tấn và quấy rối:

1.V2K sẽ không để lại bằng chứng sau khi tra tấn và quấy rối.

2.V2K sẽ bắt chước triệu chứng của vấn đề tâm thần. Nghĩa là làm cho nạn nhân bị tâm thần.

3.
V2K có thể thôi miên hoặc tạo giấc ngủ nhân tạo và khiến nạn nhân làm một số thứ mà họ muốn.


a)
Tiếp tục tra tấn/ quấy rối khi không có người nào nói bóng gió bên cạnh nạn nhân:


Quân đội và những kẻ theo dõi giấu mặt (gang stalkers) thường xuyên phát ra những thứ nói bóng gió đến nạn nhân của họ gây ra xúc cảm. Khi không có người xung quanh nói chuyện, kỹ thuật này có thể khiến cho nạn nhân nghe những lời bóng gió xung quanh. Trong trường hợp này, những tiếng nói là hăm dọa đến nạn nhân.

b)Những thao tác của nhận thức của nạn nhân:

Nạn nhân không chỉ nghe những giọng nói mà còn những tiếng ồn. Ví dụ: nạn nhân có lẽ nghe tiếng còi hú mà không có xe cứu thương nào xunh quanh. Những tai nạn có thể khiến nạn nhân cảm giác hoảng sợ nếu nạn nhân không biết rằng những kỹ thuật này là của Quân đội.

c)
Những thứ siêu nhiên xấu xa:


Nạn nhân có lẽ ngạc nhiên khi nghe giọng nói mà không có ai bên cạnh. Thiết bị âm thanh tầm xa (LRAD: Long Range Acoustic Device) có một cái tên khác là vũ khí giọng nói của thượng đế (Voice of God Weapon). Nạn nhân có lẽ làm một số thứ nhất định bởi việc tin theo giọng nói của thượng đế. Những người khác có nghe giọng nói của thượng đế hoặc thứ siêu nhiên để hành động chống lại nạn nhân.

d)Khiến nạn nhân vào chỗ chán nãn

Bởi phát ra những vấn đề tiêu cực trong thời gian dài, giọng nói có thể khiến nạn nhân bị chán nãn. Sự chán nãn là một kiểu của vấn đề tâm lý và nạn có thể có kinh nghiệm trong các vấnđề tâm lý khác từ chuyện này.


e)Tước đoạt giấc ngủ vì nghe giọng nói và tiếng ồn liên tục

Họ có lẽ sử dụng tiếng ồn tần số cao thay cho việc nói đến nạn nhân. Họ thường xuyên sử dụng tiếng ồn có tần số trên 13,000Hz. Thiếu ngủ là để sử dụng cho mụch đích đọc não, điều khiển não và điều khiển hành vi (mind control).


f)Thôi miên nạn nhân cho điều khiển não và hành vi (mind control)

Những giọng nói của họ được chuyển đổi sang tiếng ồn tầng số 13,000Hz đến 16,000Hz, vì vậy nạn nhân có thể không nghe yêu cầu thật sự. Nhưng não các nạn nhân hiểu yêu cầu trong một giọng tần số cao cụ thể. Nạn nhân có thể nghe tiếng ồn giống như thoáng qua của giọng nói được nén.

g)
Thao tác của cuộc đối thoại


Nạn nhân có lẽ nghe những giọng nói có người xung quanh. Bằng V2K, nạn nhân có lẽ không hiểu những gì mọi người đang nói. Trường hợp ngược lại cũng xãy ra; mọi người có lẽ nghe những giọng nói trong khi đối tượng ở một nơi. Điều này khiến cho xung đột giữa những người trong tổ chức. Truyền một tin đồn về nạn nhân được làm theo cách này.

(st)

Hồ sơ năng lực xem tại: Scribd | Slideshare

CTY DVMS

150/30 Đường Trục, Phường 13, Q. Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

0836028937 | 0835531145

0835531145

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Văn Phòng Hà Nội

Tầng 9 số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, P. Trung Hòa, Q. Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

0836028937 | 0835531145

0835531145

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Đại diện tại Hải Phòng

Hải Phòng, Việt Nam

0836028937 | 0835531145

0835531145

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.